Nhận xét hiệu quả điều trị trầm cảm ở bệnh nhân parkinson bằng phương pháp sốc điện có gây mê

Nhữ Đình Sơn, Cao Tiến Đức, Nguyễn Đức Thuận, Lê Văn Quân, Hoàng Thị Dung, Trịnh Văn Quỳnh Nguyễn Hoàng Thịnh, Dương Tạ Hải Ninh, Huỳnh Ngọc Lăng, Nguyễn Tất Định
Bệnh viện Quân y 103

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhận xét kết quả điều trị trầm cảm ở bệnh nhân Parkinson bằng phương pháp sốc điện.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 30 bệnh nhân có tuổi trung bình là 59,6±11,44 (nam 10, nữ: 20) được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson có trầm cảm điều trị nội khoa đáp ứng kém. Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi trước và sau sốc điện. Xét nghiệm nồng độ dopamin, serotonin, 5-HIAA, DOPAC bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao. Sốc điện theo quy trình sốc điện có gây mê.

Kết quả: Sau điều trị tỷ lệ bệnh nhân hết triệu chứng trầm cảm là 46,7%, trầm cảm nhẹ: 46,7%, trầm cảm vừa: 6,6%, không có trầm cảm nặng. Điểm trầm cảm trung bình (thang BECK) sau điều trị là 14,6 ± 3,8 so với trước điều trị: 24,2 ± 6,3 (p<0,001). Sau sốc điện, nồng độ 5-HIAA; Serotonin; Dopamin; DOPAC trong huyết tương và dịch não tủy đều tăng (p<0,001). Không gặp các tai biến, biến chứng trong quá trình sốc điện.

Kết luận: Sốc điện có gây mê có cải thiện rõ trên lâm sàng và cận lâm sàng triệu chứng trầm cảm ở bệnh nhân Parkinson, chưa thấy tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị.

Từ khóa: Parkinson, trầm cảm, sốc điện

 

I. Đặt vấn đề

Bệnh Parkinson là bệnh thường gặp trong nhóm bệnh thoái hóa mạn tính tiến triển của hệ ngoại tháp. Bệnh hay gặp ở người cao tuổi thường trên 50 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh 1-2% người trên 65 tuổi [3]. Triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh là tam chứng vận động: Run, cứng đơ, giảm động. Ngoài ra còn có các triệu chứng ngoài vận động như triệu chưng rối loạn tâm thần, rối loạn thần kinh thực vật…ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân.Trầm cảm là một trong những triệu chứng rối loạn tâm thần phổ biến nhất trong bệnh Parkinson chiểm tỷ lệ 50%, triệu chứng này liên quan đển việc giảm dopamin và serotonin trong não [7]. Điều trị trầm cảm ở bệnh nhân Parkinson là một thách thức lớn do việc đáp ứng với các thuốc điều trị ở giai đoạn bệnh nặng ngày càng kém, thậm chí làm tăng nặng triệu chứng rối loạn vận động của bệnh, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Sốc điện là một phương pháp điều trị rối loạn tâm thần ở bệnh nhân Parkinson đã được một số tác giả trên thế giới đề cập, tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn tâm thần ở bệnh nhân Parkinson bằng phương pháp sốc điện.

Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nhằm mục tiêu: “nhận xét kết quả điều trị trầm cảm ở bệnh nhân Parkinson bằng phương pháp sốc điện có gây mê

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Gồm 30 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson có trầm cảm điều trị đáp ứng kém với phương pháp dùng thuốc tại khoa Thần kinh – Bệnh viện Quân Y 103.

Tiêu chuẩn chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Ngân hàng não thuộc Hội bệnh Parkinson Vương Quốc Anh.

Tiêu chuẩn loại trừ: hội chứng Parkinson; đối tượng mắc bệnh lý ảnh hưởng đến nồng độ serotonin, dopamin và các chất chuyển hóa trong huyết tương và dịch não tủy; đối tượng không biết chữ, rối loạn chức năng nghe, đọc, viết hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu, có chống chỉ định điều trị sốc điện.

Các bệnh nhân này sau khi đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ được chuyển sang khoa Tâm thần – Bệnh viện Quân y 103 điều trị sốc điện.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang.

Phương pháp nghiên cứu:

+ Lâm sàng: Phân tích các triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ trầm cảm, mức độ trầm cảm của từng bệnh nhân tương ứng với thời gian lấy mẫu xét nghiệm. Chẩn đoán trầm cảm theo tiêu chuẩn của ICD-10. Mức độ trầm cảm theo thang điểm BECK

+ Cận lâm sàng:Xét nghiệm nồng độ dopamin, serotonin, 5-HIAA, DOPAC trong huyết tương và dịch não tủy.

+ Sốc điện theo quy trình sốc điện có gây mê tại khoa Tâm Thần – Bệnh viện Quân y 103 do các bác sỹ có chứng chỉ làm kỹ thuật thực hiện. Số lần làm 8-10 lần trong một đợt điều trị. Thuốc tiền mê: Atropin 0,25mg/ml, Propofol 200mg/20ml.

+ Điều trị nền: các thuốc chống Parkinson, vitamin, dưỡng não.

Chỉ tiêu nghiên cứu:Đặc điểm chung về tuổi,giới, nhận xét tỷ lệ, mức độ trầm cảm, sự thay đổi nồng độ serotonin, dopamin, 5-HIAA, DOPAC trong huyết tương và dịch não trước và sau sốc điện.

       Định lượng nồng độ serotonin, dopamin, 5-HIAA, DOPAC ở huyết tương và dịch não tủy tủy bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Sinh Y Dược học– Học viện Quân Y

Xử lísố liệu: bằng phần mềm SPSS 20.0; so sánh hai tỷ lệ, hai số trung bình.

III. Kết quả và bàn luận

3.1. Phân bố bệnh theo tuổi

Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi

 

Nhóm tuổi (năm)

Nhóm bệnh
n %
<40 2 6,7
40-49 3 10
50 – 59 7 23,3
60 – 69 13 43,3
≥ 70 5 16,7
Cộng 30 100
Tuổi trung bình (± SD) 59,6±11,44

 Tuổi của bệnh nhân nghiên cứu chủ yếu phân bố ở lứa tuổi từ 50 trở lên chiếm 83,3%, trong đó lứa tuổi từ 60 – 69 chiếm tỷ lệ cao nhất là 43,3%.Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 59,6±11,44.

 3.2. Phân bố bệnh theo tuổi

Bảng 3.2. Đặc điểm về giới

Giới Nhóm bệnh
n %
Nam 10 33,3
Nữ 20 66,7
Tổng 30 100

 Tỷ lệ nữ mắc bệnh nhiều hơn, chiếm 66,7%; nam chiếm 33,3%; tỷ lệ Nữ/nam = 2.

3.3. Đánh giá hiệu quả sốc điện

Bảng 3.3. Tỷ lệ trầm cảm trước và sau sốc điện

  Trước sốc điện Sau sốc điện P
  n % n %  
Có trầm cảm 30 100 16 53,7 <0,001
Không trẩm cảm 0 0 14 46,3
Tổng 30 100 30 100
Điểm BECK 24,2 ± 6,3 14,6 ± 3,8 <0,001

1

Biểu đồ 3.1. Mức độ trầm cảm trước và sau sốc điện

Trước sốc điện có 30 bệnh nhân trước điều trị có trầm cảm, điểm BECK trung bình 24,2 ± 6,3. Sau sốc điện: Số bệnh nhân trầm cảm giảm còn 16/30 (53,3%), điểm BECK trung bình giảm 14,6 ± 3,8. Tỷ lệ mức độ trầm cảm giảm có ý nghĩa với p<0,001

 

Bảng 3.4. Nồng độ các chất trong huyết tương trước và sau điều trị (n=30)

Chất chuyển hóa Trung bình ± SD KTC 95% p
Serotonin

(ng/mL)

Trước điều trị 149,82 ± 38,33 135,51-164,14 <0,001
Sau điều trị 202,78 ± 72,95 175,54-230,02
Dopamin

(pg/mL)

Trước 4,46 ± 2,30 3,61-5,33 <0,001
Sau 6,50 ± 2,47 5,58-7,42
5-HIAA

(ng/mL)

Trước 8,40 ± 0,78 8,11-8,69 <0,001
Sau 9,86 ± 1,74 9,21-10,51
DOPAC

(ng/mL)

Trước 3,38 ± 1,08 2,98-3,78 <0,001
Sau 4,07 ± 1,48 3,51-4,62

* Trong huyết tương:

Trước sốc nồng độ 5-HIAA là 8,40 ± 0,78 (ng/mL), sau sốc tăng lên 9,86 ± 1,74 (ng/mL). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,001.

Trước sốc nồng độ Serotonin là 149,82 ± 38,33 (ng/mL), sau sốc tăng lên 202,78 ± 72,95 (ng/mL). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,001.

Trước sốc nồng độ Dopamin là 4,46 ± 2,30 (pg/mL), sau sốc tăng lên 6,50 ± 2,47 (pg/mL). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,001.

Trước sốc nồng độ DOPAC là 3,38 ± 1,08 (ng/mL), sau sốc tăng lên 4,07 ± 1,48 (ng/mL). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,001.

Bảng 3.5. Nồng độ các chất trong dịch não tủy trước và sau sốc

Chất chuyển hóa Trung bình ± SD KTC 95% P
Serotonin

(pg/mL)

Trước điều trị 168,96± 83,85 137,65- 200,27 <0,01
Sau điều trị 231,97± 142,76 178,66-285,28
Dopamin

(pg/mL)

Trước 20,48±5,25 18,52- 22,44 <0,05
Sau 24,64±9,20 21,20- 28,08
5-HIAA

(ng/mL)

Trước 14,90±6,91 12,32- 17,48 <0,001
Sau 20,25±9,03 16,88-23,63
DOPAC

(ng/mL)

Trước 4,34±3,30 3,10-5,57 <0,01
Sau 7,45±6.01 5,21-9,70

* Trong dịch não tủy:

–        Trước sốc nồng độ Serotonin là 168,96± 83,85 (pg/mL), sau sốc tăng lên 231,97± 142,76 (pg/mL). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,01.

–        Trước sốc nồng độ Dopamin là 20,48±5,25 (pg/mL), sau sốc tăng 24,64±9,20 (pg/mL). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05.

–        Trước sốc nồng độ 5-HIAA là 14,90±6,91 (ng/mL), sau sốc tăng lên 20,25±9,03 (ng/mL), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,001.

–        Trước sốc nồng độ DOPAC là 4,34±3,30 (ng/mL), sau sốc tăng lên 7,45±6.01 (ng/mL), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,01.

Bảng 3.6: Tai biến, biến chứng của kỹ thuật (n=30)

Tai biến Số lượng Tỷ lệ
Gãy xương, sai khớp 0 00
Dị ứng thuốc tiền mê 0 00
Tim mạch, hô hấp 0 00
Tai biến khác 0 00

Không gặp tai biến, biến chứng trong quá trình làm kỹ thuật

IV. Bàn luận

Bệnh Parkinson là bệnh của người cao tuổi, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều thấy rằng bệnh thường gặp ở những người trên 50 tuổi, hay gặp nhất là từ 60 – 70 tuổi. Kết quả chúng tôi tuổi trung bình nhóm bệnh là 59,6±11,44. Trên 83,3% bệnh nhân trên 50 tuổi. Nghiên cứu Wiesli D và cộng sự  tuổi trung bình nhóm bệnh là 66,0 ± 8,4 tuổi [10]. Như vậy kết quả chúng tôi tương tự với các tác giả và phù hợp với đặc điểm chung của bệnh.

Thông thường tỷ lệ mắc bệnh Parkinson ở nam thường cao hơn nữ. Nghiên cứu của Verbann D (2007) về rối loạn nhận thức ở bệnh nhân Parkinson thấy tỷ lệ Nam/Nữ là 1,75 [9]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quảng (2013) thấy tỷ lệ mắc Parkinson của nam/nữ là 2,63[1]. Kết quả chúng tôi cho thấy tỷ lệ nữ mắc cao hơn nam, khác với các tác giả do cỡ mẫu chúng tôi còn hạn chế chưa đại diện cho mẫu được, cần phải đánh giá với số mẫu lớn hơn, phải chăng các bệnh nhân nữ dễ có triệu chứng trầm cảm đi kèm hơn nam?

Trầm cảm là một bệnh đi kèm thường xuyên ở bệnh nhân Parkinson. Bằng chứng cho thấy rằng trầm cảm có mối quan hệ hai chiều với bệnh Parkinson, với một trong hai tình trạng này làm tăng nguy cơ phát triển bệnh kia.  Tỷ lệ phổ biến được báo cáo rộng rãi này có thể là do sự khác nhau trong các phương pháp đánh giá, các mẫu lâm sàng và ngưỡng nhận dạng của các rối loạn tâm trạng. Năm 1975 Lebensohn và cộng sự đã báo cáo về sự cải thiện các triệu chứng trầm cảm ở bệnh nhân Parkinson sau sốc điện [5]. Theo TakamiyaA. và cộng sự thống kê trong số 1219 trích dẫn, 14 nghiên cứu (n = 129; 1 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, 9 nghiên cứu quan sát tiền cứu và 4 nghiên cứu hồi cứu) đã được phân tích. Sốc điện cải thiện đáng kể chứng trầm cảm và rối loạn tâm thần [8]. Tương tự, Douyon và cộng sự  (1989) trong một nghiên cứu mở, bảy bệnh nhân mắc bệnh Parkinson trầm cảm nặng đều được cải thiện sau sốc điện [4]. Kết quả chúng tôi thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm và tỷ lệ mức độ trầm cảm giảm có ý nghĩa thống kê, kết quả này phù hợp các nghiên cứu trên. Kết quả của chúng tôi tương tự tác giả trên thế giới tuy nhiên cỡ mẫu nghiên cứu còn hạn chế nên cần được mở rộng số lượng và đánh giá với thời gian dài hơn để nhận xét cho khách quan hơn.

Khi xét nghiệm huyết tương và dịch não tủy, chúng tôi thấy rằng nồng độ serotonin, dopamin và các chất chuyển hóa của chúng sau sốc tăng đáng kể so với trước sốc. Các tác giả đã lập luận rằng sự cải thiện là do sự phá vỡ hàng rào máu não được biết là xảy ra với điều trị sốc điện [2]. Điều này sẽ cho phép tăng nồng độ L-dopa vào não, có khả năng làm giảm các triệu chứng vận động mặc dù liều lượng thuốc uống không đổi. Các nghiên cứu trên động vật và con người đã gợi ý rằng sốc điện tăng cường dẫn truyền dopaminergic. Vì nồng độ trong huyết thanh và dịch não tủy của các chất chuyển hóa dopamine không nhất quán trong các nghiên cứu, nên người ta cho rằng tác dụng có thể là tăng cường ở cấp độ thụ thể hoặc sau thụ thể [6]. Ngoài ra, sốc điện có tác dụng đáng kể trên cả các dẫn truyền noradrenergic và serotonergic, có thể tạo ra hiệu ứng antiparkinsonian. Những điều này khẳng định sự gia tăng dopamine, serotonin và các chất chuyển hóa của chúng trong huyết thương và dịch não tủy sau sốc điện.

Về tai biến của kỹ thuật: các tai biến của kỹ thuật sốc điện được y văn nêu là: ngừng tim, gãy xương sai khớp, cắn vào môi, lưỡi. Từ khi áp dụng quy trình sốc điện có gây mê thì các tai biến này giảm đáng kể. Qua 30 bệnh nhân nghiên cứu với hơn 200 lượt làm kỹ thuật chúng tôi không gặp tai biến, biến chứng nào. Tuy nhiên chúng tôi thấy cần khám kỹ nội khoa, chỉ định chặt chẽ trước khi làm để đề phòng biến chứng, tai biến của kỹ thuật, hơn nữa nhóm nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ nên cần tiếp tục nghiên cứu thêm để đánh giá cho chuẩn xác.

V. Kết luận

Qua nghiên cứu 30 bệnh nhân mắc bệnh Parkinson có trầm cảm điều trị bằng phương pháp sốc điện chúng tôi rút ra kết luận:

* Đặc điểm lâm sàng bệnh Parkinson có trầm cảm điều trị sốc điện:

– Đa số bệnh nhân ở nhóm tuổi từ 50 trở lên chiếm 83,3%. Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 59,6±11,44. Tỷ lệ Nữ/nam = 2.

* Đánh giá hiệu quả lâm sàng bằng phương pháp sốc điện

– Sau sốc điện tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm và mức độ trầm cảm giảm đáng kể so với trước sốc điện.

– Nồng độ các chất serotonin, dopamin và các chất chuyển hóa trong huyết tương và dịch não tủy sau sốc điện tăng đáng kể so với trước sốc điện.

– Không gặp tai biến, biến chứng của kỹ thuật trong nhóm nghiên cứu.

 

SUMMARY

Commenting on the effectiveness of treatment of depression in Parkinson’s patients by Electroconvulsive Therapy with anesthesia method

 

Objectives: To comment on the results of treatment of depression in patients with Parkinson’s disease by electroconvulsive therapy (ECT) method.

Subjects and methods: Including 30 patients with an average age of 59.6±11.44 (male:10, female:20) that diagnosed with depression with Parkinson’s disease which poorly response to medical treatment. Prospective study, description, and follow-up before and after ECT. Testing the concentration of dopamine, serotonin, 5-HIAA, DOPAC by high-performance liquid chromatography method. ECT isperformedbytheprocessof  ECT withanesthesia.

Results: After treatment, the percentage of patients who had no symptoms of depression was 46.7%, mild depression: 46.7%, moderate depression: 6.6%, no major depression. The mean depression score (BECK scale) after treatment was 14.6 ± 3.8, compared with before treatment : 24.2 ± 6.3 (p<0.001). After the ECT, the level of 5-HIAA, Serotonin, Dopamine, DOPAC in plasma and cerebrospinal fluid were increased (p<0.001). There were no accidents or complications during ECT.

Conclusions: ECT with anesthesia method has improved clinical and subclinical symptoms of depression in Parkinson’s patients, there were no side-effects that have been observed.

Keys: Parkinson, depression, Electroconvulsive Therapy.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Văn Quảng (2013), Nghiên cứu một số đặc điểm ngoài rối loạn vận động ở bệnh nhân Parkinson, Luận văn thạc sỹ Y học, Học viện Quân Y.
  2. Bolwig T.G., Hertz M.M., Paulson O.B. et al. (1977). The permeability of the blood—brain barrier during electrically induced seizures in man. European Journal of Clinical Investigation, 7(2), 87–93.
  3. Chuquilin-Arista, Alvarez-Avellon F.T, Menendez-Gonzalez M (2019),    Prevalence of Depression and Anxiety in Parkinson Disease and Impact on Quality of Life: A Community-Based Study in Spain,J Geriatr Psychiatry Neurol. p.1-7
  4. Douyon  R., Serby M., Klutchko B., Rotrosen J (1989). ECT and Parkinson’s disease revisited: a “naturalisticstudy. AJP, 146(11), 1451–1455.
  5. Lebensohn Z.M. và Jenkins R.B. (1975). Improvement of Parkinsonism in depressed patients treated with ECT. The American Journal of Psychiatry, 132(3), 283–285.
  6. Kapur S. và Mann J.J. (1993). Antidepressant action and the neurobiologic effects of ECT: human studies. The clinical science of electroconvulsive therapy, 235–250.
  7. Scholtissen B., Verhey R.J F., Steinbusch M.W H., et al.(2006), Serotonergic mechanisms in Parkinson’s disease: opposing results from preclinical and clinical data. J Neural Transm (Vienna), 113(1): p. 59-73.
  8. Takamiya A., Seki M., Kudo S. et al. (2021). Electroconvulsive Therapy for Parkinson’s Disease: A Systematic Review and Meta-Analysis. Mov Disord, 36(1), 50–58.
  9. Verbaan D., Marinus J., Visser M. et al. (2007). Cognitive impairment in Parkinson’s disease. Journal of  Neurology, Neurosurgery & Psychiatry, 78(11), 1182–1187.
  10. Wiesli D et al (2017), Influence of  Mild Cognitive Impairment, Depression, and Anxiety on the Quality of Life of Patients with Parkinson Disease, Dement Geriatr Cogn Dis Extra, 7 (3): p. 297-308.

 

Tin Liên Quan