Chóng mặt và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đến khám tại Phòng khám Thần kinh – Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre

Nguyễn Hoàng Lãm1, Trình Minh Hiệp1, Hồ Hoàng Vũ2, Lê Văn Tuấn2
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre1
Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh2

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Chóng mặt là một trong những triệu chứng thường gặp ở mọi lứa tuổi, nam cũng như nữ, là một trong những nguyên nhân khiến người bệnh tìm đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe để thăm khám và điều trị. Chẩn đoán chính xác nguyên nhân chóng mặt là khó khăn, đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững những đặc điểm của chóng mặt, việc đề ra những chiến lược điều trị, xác định nguyên nhân cho người bệnh nhập viện vì chóng mặt là cần thiết.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 385 người bệnh đến khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 – 02/2018.
Kết quả: Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính chiếm 26%, kế đến là đau đầu migraine 9,4%. Chóng mặt không đặc hiệu 48,6%, kiểu xoay tròn 35,1%, kiểu tiền ngất 13,7% và kiểu thăng bằng là 2,6%.
Kết luận: Có mối liên quan giữa chóng mặt kịch phát lành tính với giới tính. Đa số bệnh nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính là chóng mặt kiểu xoay tròn.
Từ khóa: Chóng mặt, nguyên nhân chóng mặt.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chóng mặt là một trong những triệu chứng thường gặp ở tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người bệnh tìm đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe để thăm khám và theo dõi.
Chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt một cách chính xác, cụ thể là khó khăn, đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững những đặc điểm của chóng mặt. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân chóng mặt tại Việt Nam còn hạn chế, chưa được khảo sát một cách đầy đủ và có hệ thống. Việc đề ra những chiến lược điều trị, xác định nguyên nhân cho người bệnh nhập viện vì chóng mặt là cần thiết.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng chóng mặt như tình trạng bệnh lý, các yếu tố môi trường, hành vi, thói quen của dân số. Thông thường các yếu tố này không tác động đơn độc mà kết hợp với nhau dẫn đến tình trạng chóng mặt, xuất hiện đột ngột và có thể gây nguy hiểm. Đối với chóng mặt do tình trạng bệnh lý, nguyên nhân thường gặp nhất là do rối loạn tiền đình ngoại biên, viêm thần kinh tiền đình, đau đầu Migraine,… Các trường hợp chóng mặt do các bệnh lý như đột quỵ não, xơ cứng rải rác, u vùng hố sau và bệnh lý thoái hóa thần kinh thường là những nguyên nhân trầm trọng, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, cần can thiệp và xử trí cấp cứu.
Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định một số nguyên nhân của chóng mặt, các yếu tố liên quan của bệnh nhân chóng mặt tại phòng khám ngoại trú thần kinh, nhằm đánh giá có hệ thống, tiến tới làm cơ sở cho công tác chẩn đoán và điều trị chóng mặt.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số mục tiêu
Người bệnh đến khám tại Phòng khám Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre.
Dân số nghiên cứu
Người bệnh đến khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018.
Tiêu chí chọn vào
Tất cả người bệnh đến khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh từ 18 tuổi trở lên, đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chí loại trừ
– Người bệnh có suy giảm ý thức, sa sút trí tuệ, mất ngôn ngữ, có thai.
– Có chấn thương cột sống cổ, phẫu thuật cột sống cổ, bệnh lý tủy cổ hay bệnh lý rễ cổ.
– Viêm khớp dạng thấp nặng, hẹp động mạch cảnh nặng.
– Có hội chứng phình bóc tách mạch máu.
– Có cơn thiếu máu não thoáng qua, thiếu máu não đang tiến triển.
Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ:

Theo nghiên cứu của Teggi R. và cộng sự thực hiện năm 2016, ghi nhận tỷ lệ chóng mặt là 40,3%. Do đó ta chọn p= 0,403 để ước lượng cỡ mẫu cho nghiên cứu(1). Chúng tôi chọn cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là 370.
Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện các bệnh nhân tới khám tại Phòng khám ngoại trú Thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018, thỏa tiêu chí chọn mẫu. Mỗi ngày thực hiện thu thập 5 mẫu nghiên cứu. Trung bình một ngày phòng khám có khoảng 60 bệnh nhân đến khám, do đó chọn người bệnh đầu tiên vào khám là đối tượng tham gia nghiên cứu sau đó cách 5 người sẽ lấy người kế tiếp (khoảng cách mẫu là k = 5). Nếu bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu thì chọn người kế tiếp vào sau đó.
Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả người bệnh được khám lâm sàng, ghi nhận bệnh sử, tiền căn, sinh hiệu, dấu hiệu tổng quát, thần kinh và tiền đình. Các test khám lâm sàng cơ bản được sử dụng để xác định nguyên nhân chóng mặt.
Phân tích số liệu
Phép kiểm χ2 được sử dụng để xác định mối liên quan giữa nhân chóng mặt và các yếu tố liên quan. Tỷ số số chênh (odds ratio) được sử dụng để đánh giá độ lớn mối liên quan, có ý nghĩa thống kê với giá trị p<0,05 và khoảng tin cậy 95% không chứa giá trị 1.

III. KẾT QUẢ

Bảng 1. Đặc tính tuổi, giới (n=385)

Đặc điểm mẫu nghiên cứu Tần số Tỷ lệ %
Nhóm tuổi    
Dưới 45 tuổi 71 18,5
Từ 45 đến 54 tuổi 64 16,6
Từ 55 đến 64 tuổi 101 26,2
Từ 65 tuổi trở lên 149 38,7
Giới tính    
Nam 99 25,7
Nữ 286 74,3

Nhóm tuổi từ 55 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 64,9%. Giới tính nữ chiếm đa số với 74,3%. Có 100% mẫu nghiên cứu là người Kinh.

Bảng 2. Đặc điểm kiểu chóng mặt (n= 385)

Đặc điểm kiểu chóng mặt Tần số Tỷ lệ %
Kiểu xoay tròn 135 35,1
Kiểu tiền ngất 53 13,8
Kiểu mất thăng bằng 10 2,6
Không đặc hiệu 187 48,5

Kiểu chóng mặt không đặc hiệu chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,5%, kế đến là kiểu xoay tròn với 35,1%. sau đó là chóng mặt kiểu tiền ngất chiếm 13,8% và chóng mặt kiểu mất thăng bằng chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là 2,6%.

Bảng 3. Mối liên quan giữa cường độ chóng mặt và kiểu chóng mặt (n=385)

Kiểu chóng mặt Cường độ chóng mặt p
Nhẹ (%) Trung bình (%) Nặng (%)
Kiểu xoay tròn 3 (2,2) 16 (11,9) 116 (85,9) <0,001

*

Kiểu tiền ngất 46 (86,8) 6 (11,3) 1 (1,9)
Kiểu mất thăng bằng 4 (40,0) 2 (20,0) 4 (40,0)
Không đặc hiệu 165 (88,2) 20 (10,7) 2 (1,1)

*Phép kiểm Fisher: Có sự khác biệt về tỷ lệ chóng mặt cường độ nặng theo các kiểu chóng mặt khác nhau (p<0,001). Những người có kiểu chóng mặt xoay tròn và mất thăng bằng có tỷ lệ chóng mặt cường độ nặng cao hơn so với những người chóng mặt kiểu tiền ngất và không đặc hiệu, 85,9% và 40,0% so với 1,9% và 1,1% tương ứng.

Bảng 4. Mối liên quan giữa nhóm tuổi và chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (n=385)

Nhóm tuổi Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính p
Có (%) Không (%)
Dưới 45 tuổi 17 (23,9) 54 (76,1) 0,720
Từ 45 đến 54 tuổi 20 (31,3) 44 (68,7)
Từ 55 đến 64 tuổi 24 (23,8) 77 (76,2)
Từ 65 tuổi trở lên 39 (26,2) 110 (73,8)

Phép kiểm χ2: Không có sự khác biệt về tỷ lệ chóng mặt tư thế kịch phát lành tính theo các nhóm tuổi.

Bảng 5. Mối liên quan giữa giới tính và chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (n=385)

Giới tính Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính p
Có (%) Không (%)
Nam 17 (17,2) 82 (82,8) 0,02
Nữ 83 (29,0) 203 (71,0)

Phép kiểm χ2: Nữ giới có tỷ lệ chóng mặt tư thế kịch phát lành tính cao hơn so với nam giới. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,02.

Bảng 6. Mối liên quan giữa chóng mặt tư thế kịch phát lành tính và kiểu chóng mặt (n= 385)

Các kiểu chóng mặt Chóng mặt kịch phát lành tính p
Có (%) Không (%)
Kiểu xoay tròn 97 (97,0) 38 (13,3) <0,001
Kiểu tiền ngất 1 (1,0) 52 (18,3)
Kiểu mất thăng bằng 1 (1,0) 9 (3,2)
Không đặc hiệu 1 (1,0) 186 (65,2)

Phép kiểm χ2: Có mối liên quan giữa các kiểu chóng mặt với nguyên nhân chẩn đoán là chóng mặt kịch phát lành tính với p<0,001. Tỷ lệ kiểu chóng mặt kiểu xoay tròn trong nhóm có nguyên nhân chóng mặt kịch phát lành tính là 97,0% và cao hơn so với nhóm không do chóng mặt kịch phát lành tính với 13,3%. Kiểu chóng mặt không đặc hiệu ở nhóm không do chóng mặt kịch phát lành tính cao hơn so với nhóm có chóng mặt kịch phát lành tính, 65,2% so với 1,0%.

IV. BÀN LUẬN
Đặc tính mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 59,32 ± 15,17 tuổi. Trong đó, những người trên 55 tuổi chiếm 64,9%, và tập trung ở độ tuổi trên 65 tuổi chiếm đến 38,7%. Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Liu B., với độ tuổi trung bình chóng mặt là 40 ± 18,6 tuổi(2). Sự khác biệt này có thể là do nghiên cứu của Liu B. bao gồm những bệnh nhân có tuổi từ 4 đến 89, trong khi mẫu nghiên cứu của chúng tôi bao gồm người trưởng thành. Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của chúng tôi tương đương với tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu của Bunasuwan P và cộng sự (2011) ở Thái lan là 55(3). Nghiên cứu của chúng tôi và của Bunasuwan P. và cộng sự đều lấy dữ liệu từ bệnh viện. Các nghiên cứu tại Việt Nam tiến hành bằng cách đo lường trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua phỏng vấn ghi nhận độ tuổi mắc bệnh thường gặp từ 40 đến 59 tuổi(3)(4). Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân ≤ 65 tuổi chiếm đa số 61,3%.
Về giới tính của mẫu nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ nữ cao hơn nam (lần lượt là 74.3% và 25,7%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả tác giả trong nước và nước ngoài. Một nghiên cứu trong cộng đồng ở miền đông bắc nước Pháp trên 2987 người trưởng thành tuổi từ 18 – 86 cho thấy chóng mặt thường gặp ở nữ hơn nam ở hầu hết các nhóm tuổi, ngoại trừ nhóm tuổi ≥ 70(5). Các nghiên cứu của các tác giả khác thuộc nhiều vùng địa lý khác nhau cũng cho kết quả rằng chóng mặt gặp ở nữ nhiều hơn nam(2)(5)(6)(7). Các nghiên cứu đề cập ở trên được tiến hành ở nhiều nước khác nhau trên thế giới; dân số chọn mẫu từ cộng đồng, y tế cơ sở và khoa cấp cứu bệnh viện. Nghiên cứu ở Thái lan thực hiện năm 2011 có cùng dân số nghiên cứu đó là người bệnh đến khám tại các phòng khám, cũng cho tỷ lệ nữ cao hơn nam(3). Tác giả Cao Phi Phong nhận thấy tỷ lệ chóng mặt giữa nam và nữ là 1:2,7(4). Nghiên cứu của tác giả Hồ Vĩnh Phước và Vũ Anh Nhị (2015) cho kết quả tương tự về phân bố giới(8). Lý giải về tỷ lệ này có thể là do sự liên quan mạnh giữa chóng mặt và migraine vốn ở nữ hơn là nam, và ảnh hưởng của các yếu tố hormone ở nữ có liên quan chóng mặt.
Đặc điểm của chóng mặt, một số yếu tố liên quan
Chóng mặt là một trong những lý do thường gặp làm bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng khám đa khoa cũng như phòng khám chuyên khoa thần kinh. Ở nước ta, hệ thống y tế hiện chưa có hệ thống bác sĩ gia đình và chưa có sự phân cấp quản lý điều trị rõ rệt giữa phòng khám đa khoa và chuyên khoa, do đó bệnh nhân bị chóng mặt có thể đến phòng khám chuyên khoa ngay từ đầu mà không qua phòng khám đa khoa hay bác sĩ gia đình như ở các nước phát triển. Một tổng quan hệ thống của Bösner S. và cộng sự (2018) lấy dữ liệu từ 31 nghiên cứu tại hệ thống y tế cơ sở về tần suất đến khám vì chóng mặt. Kết quả là tần suất đến khám vì chóng mặt khá dao động 1,0 – 15,5%(9). Tần suất chóng mặt thay đổi đáng kể giữa các nghiên cứu vì cách chọn mẫu và đánh giá triệu chứng khác nhau.
Kiểu chóng mặt là một trong những yếu tố quan trọng giúp chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các kiểu chóng mặt được ghi nhận lần lượt là: kiểu xoay tròn 135 (35,1%), kiểu mất thăng bằng 10 (2.6%), kiểu tiền ngất 53 (13,7%), kiểu không đặc hiệu 187 (48,6%). Chóng mặt kiểu xoay tròn chiếm tỷ lệ cao trong các kiểu chóng mặt. Cũng tương tự như các nghiên cứu ở Nhật Bản của tác giả Ozono thực hiện năm 2014 với tỷ lệ chóng mặt xoay trong là 53%, hay nghiên cứu của Newman – Toker với tỷ lệ chóng mặt xoay tròn là 59%(10),(11). Chóng mặt xoay tròn do sự bất đối xứng của chức năng hệ tiền đình hai bên. Chính sự bất đối xứng này gây ra ảo giác chuyển động của bản thân hay môi trường xung quanh và ảo giác này thường tăng lên khi cử động đầu.
Kiểu chóng mặt có liên quan có ý nghĩa thống kê với chóng mặt tư thế kịch phát lành tính. 97,0% bệnh nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính có kiểu chóng mặt xoay tròn (p < 0,001), chỉ 13,3% bệnh nhân chóng mặt do nguyên nhân không phải chóng mặt tư thế kịch phát lành tính có kiểu chóng mặt xoay tròn (p < 0,001). Kết quả của chúng tôi phù hợp với y văn(12),(13), chóng mặt tư thế kịch phát lành tính có kiểu chóng mặt xoay tròn đặc trưng của rối loạn tiền đình ngoại biên. Các nguyên nhân gây chóng mặt còn lại trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là nguyên nhân không đặc hiệu (61,0%), thường do các nguyên nhân nội khoa và tâm thần, không do tổn thương tiền đình ngoại biên do đó tỷ lệ chóng mặt kiểu xoay tròn thấp hơn các kiểu chóng mặt khác có ý nghĩa thống kê.
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về cường độ chóng mặt ở các kiểu chóng mặt khác nhau (p<0,001). Những người có kiểu chóng mặt xoay tròn và mất thăng bằng phần lớn có chóng mặt cường độ nặng (85,9% và 40,0%). Những người chóng mặt kiểu tiền ngất và không đặc hiệu phần lớn có chóng mặt cường độ nhẹ (86,8% và 88,2%). Chóng mặt kiểu tiền ngất và chóng mặt không đặc hiệu thường không gây triệu chứng chóng mặt thất sự, không gây chóng mặt xoay tròn mà kiểu lâng lâng choáng váng nên thường ít gây khó chịu như chóng mặt kiểu xoay tròn(14).

KẾT LUẬN
Chóng mặt là một trong những lý do thường gặp làm bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng khám đa khoa cũng như phòng khám chuyên khoa thần kinh. Tỷ lệ chóng mặt ở nữ giới cao hơn so với ở nam giới. Kiểu chóng mặt là một trong những yếu tố quan trọng giúp chẩn đoán nguyên nhân chóng mặt. Chóng mặt kiểu xoay tròn chiếm tỷ lệ cao trong các kiểu chóng mặt.

ABSTRACT
Vertigo and risk factors of outpatients neurological clinic in nguyen dinh chieu hospital, Ben Tre province
Background: Vertigo and dizziness are the main causes for patients to seek medical care for follow-up visits. Diagnosing the cause of dizziness can be difficult because symptoms are often nonspecific and the differential diagnosis is broad.
Subject and method: A cross-sectional study was conducted from November 2017 to February 2018 in 385 outpatients.
Results: Benign paroxysmal positional vertigo (BPPV) is one of the most common causes of vertigo (26%), migraine was 9.4%. The prevalence of unspecified dizziness was 48.6%, vertigo was 35.1%, presyncope was 13.7% and disequilibrium was 2.6%.
Conclusion: Dizziness is often a result of vertigo as well. The most common cause of vertigo and vertigo-related dizziness is benign positional vertigo (BPV).
Key words: Dizziness, vertigo, dizziness’causes.

Tài liệu tham khảo
1. Teggi R., Manfrin M., Balzanelli C., Gatti O., Mura F., Quaglieri S., Pilolli F., Redaelli de Zinis L.O., Benazzo M., Bussi M. (2016) “Point prevalence of vertigo and dizziness in a sample of 2672 subjects and correlation with headaches”. Acta Otorhinolaryngol Ital, 36 (4), pp. 215-219.
2. Liu B.@, Liu C., Chen X.W., Duan J.P., Zhao X.Y., Guan J.Z., Zuo L.J. (2008) “Investigation and analysis of the baseline data of 3432 patients with vertigo”. Zhongguo Yi Xue Ke Xue Yuan Xue Bao, 30 (6), pp. 647-650.
3. Bunasuwan P., Bunbanjerdsuk S., Nilsuwan A. (2011) “Etiology of vertigo in Thai patients at Thammasat Hospital”. J Med Assoc Thai, 94 (7), pp. 102-108.
4. Cao Phi Phong, Bùi Châu Tuệ (2010) “Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính: phân tích 30 trường hợp điều trị tái định vị sỏi ống bán khuyên sau bằng nghiệm pháp Epley”. Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 14 (1), tr. 304-309.
5. Alexandre Bisdorff (2013) “The epidemiology of vertigo, dizziness, and unsteadiness and its links to co-. morbidities. Frontiers in Neurology”. Original research article, 4 (29), pp. 1-7.
6. Lüscher M (2014) “Prevalence and characteristics of diagnostic groups amongst 1034 patients seen in ENT practices for dizziness”. J Laryngol Otol, 128 (2), pp. 128-133.
7. Saif A.A, Senany S.A (2015) “The clinical and demographic features of dizziness related to general health among the Saudi population”. J. Phys. Ther. Sci, 27, pp. 195-198.
8. Hồ Vĩnh Phước, Vũ Anh Nhị (2010) “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị chóng mặt tư thế kịch phát lành tính”. Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh, 14 (1), tr. 341-346.
9. Bösner S. (2018) “Prevalence, aetiologies and prognosis of the symptom dizziness in primary care – a systematic review”. BMC Family Practice, 19: 33.
10. Ozono Y., Kitahara T., Fukushima M., Michiba T., Imai R., Tomiyama Y., et al. (2014), “Differential diagnosis of vertigo and dizziness in the emergency department”. Acta Otolaryngol, 134(2), pp. 140-145.
11.Newman-Toker D.E.@, Cannon L.M., Stofferahn M.E., Rothman R.E., Hsieh Y.H., Zee D.S. (2007) “Imprecision in patient reports of dizziness symptom quality: a cross-sectional study conducted in an acute care setting”. Mayo Clin Proc, 82 (11), pp. 1329-1340.
12. Kentala E.@, Pyykko I. (2000) “Vertigo in patients with begnin paroxysmal positional vertigo”. Acta Otolaryngol, 543, pp. 20-22.
13. Vũ Anh Nhị (2015) Hoa mắt chóng mặt. Điều trị bệnh thần kinh, tr. 435-457.
14. Wipperman J.@ (2014) “Dizziness and vertigo”. Prim Care, 41 (1), pp. 115-131.

Tin Liên Quan