Chè hàng rào

Chè Hàng Rào

Chè Hàng Rào

 Tên khác: Trà hàng rào, Trà cọc rào, Chè tàu, Tai tượng xiêm, Chè mạn hảo.

Tên khoa học: Acalypha siamensis Oliv. ex Gage syn. Acalypha evrardii Gagnep., Acalypha spenophylla Pax & Hoffm., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang trong các rừng còi hoặc trảng cây bụi, trên núi đá vôi nhiều tỉnh nước ta. Thường được trồng làm hàng rào quanh các vườn gia đình, dọc các lối đi.

Mô tả: Cây nhỡ 1-4m, có các nhánh nhẵn. Lá hình mũi mác-thoi, thon lại và tù ở gốc và ở chóp, màu lục lờ, có kích thước thay đổi, dài 30-60mm, rộng 18-30mm, rất nhẵn, mép có răng thưa ở nửa phía trên, về mỗi bên có 7-8 răng tù, hình tam giác, cuống lá có rãnh, dài 2-10mm. Hoa thành bông ở nách lá, gần như không có cuống, nhẵn hay gần nhẵn, dài 2-5cm, các hoa đực xếp thành xim co ở phía ngọn, các hoa cái đơn độc ở phía gốc. Quả rộng 4mm. Hạt hình trứng, hơi nhọn đỉnh, dài 2-5mm.

Bộ phận dùng: Lá, cành non và hoa (Folium, Ramulus et Flos Acalyphae Siamensis). Thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Thành phần hoá học chính: Các tetraterpen, carbohydrat. Công dụng: Hoa và lá thường dùng nấu nước hay hãm uống như trà, có tác dụng lợi tiểu. Cũng được dùng làm thuốc tẩy, trị giun và làm thuốc long đờm, gây nôn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-20g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Bài thuốc: 1. Thuốc lợi tiểu dùng cho người thận yếu, đau lưng hay suy gan mật: Chè hàng rào cắt thành đoạn nhỏ, phơi khô, sao lên, nấu nước hay hãm uống thay trà. 2. Thuốc long đờm, chữa ho: Bông hoa, lá Chè hàng rào 12g, Rễ Măng tây 12g, Bạc hà núi 12g, các vị dược liệu phơi khô, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 150ml chia uống hai lần trong ngày. 

 

Tin Liên Quan